Hoàn cảnh ra đời và nguồn gốc của Tư tưởng Hồ Chí Minh


Chủ tịch Hồ Chí Minh (1890-1969)
Tư tưởng Hồ Chí Minh là thuật ngữ dùng để đề cập về những tư tưởng của Hồ Chí Minh được Đảng Cộng sản Việt Nam đúc kết lại, sử dụng như là hệ thống tư tưởng chính trong nước hiện nay, bên cạnh chủ nghĩa Marx Lenin. Theo đó, hệ thống tư tưởng này bao gồm những quan điểm về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, từ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đến cách mạng xã hội chủ nghĩa; vận dụng và phát triển chủ nghĩa Marx-Lenin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam.
Tư tưởng Hồ Chí Minh chủ yếu được đưa ra trong thời kỳ đấu tranh giải phóng dân tộc chống thực dân Pháp, trước cách mạng tháng 8 và một số được đúc kết sau này trong suốt quá trình chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ, xây dựng Đảng Cộng sản và chính quyền cộng sản. Theo nhận định, đây là sự kết hợp của các luồng tư tưởng và văn hóa của Việt Namcách mạng Pháp, tư tưởng tự do của Hoa Kỳ, lý tưởng cộng sản Marx Lenin, tư tưởng văn hóa phương Đông.
Hiến pháp 1992 và Điều lệ của Đảng Cộng Sản Việt Nam đều lấy Tư tưởng Hồ Chí Minh cùng với chủ nghĩa Marx-Lenin làm nền tảng định hướng cho sự phát triển của Việt Nam và Đảng.
Đảng Cộng sản, Nhà nước Việt Nam cùng các quan điểm chính thống ở Việt Nam hiện nay đều thống nhất đánh giá Tư tưởng Hồ Chí Minh chính là cách vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Marx-Lenin trong điều kiện cụ thể của Việt Nam, và trong thực tế Tư tưởng Hồ Chí Minh đã trở thành một tài sản tinh thần quý báu của Đảng Cộng Sản Việt Nam và của dân tộc Việt Nam.

Hoàn cảnh ra đời của Tư tưởng Hồ Chí Minh

Việt Nam

  • Là quốc gia nằm dưới sự cai trị của triều đình nhà Nguyễn và thực dân Pháp. Năm 1883, triều đình Huế ký kết Hiệp ước Harmand với đế quốc Pháp, thừa nhận quyền bảo hộ của họ trên khắp An Nam. Từ sau Hiệp ước Patenôtre năm 1884, Việt Nam trở thành một nước phong kiến nửa thuộc địa.
  • Có nhiều cuộc khởi nghĩa nổi dậy chống thực dân Pháp.
  • Trong xã hội tồn tại nhiều mâu thuẫn.
    • Mâu thuẫn giữa người dân lao động và triều đình phong kiến.
    • Mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam và thực dân Pháp.
    • Mâu thuẫn giữa giai cấp công nhân Việt Nam và giai cấp tư sản.
a. Tư tưởng và văn hóa truyền thống Việt Nam.
Dân tộc Việt Nam trong hàng ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước đã tạo lập cho mình một nền văn hóa riêng, phong phú và bền vững với những truyền thống tốt đẹp và cao quý.
- Trước hết, đó là chủ nghĩa yêu nước và ý chí kiên cường trong đấu tranh dựng nước và giữ nước. Chủ nghĩa yêu nước là dòng chủ lưu chảy xuyên suốt trường kỳ lịch sử Việt Nam, là chuẩn mực cao nhất trong bảng giá trị văn hóa – tinh thần việt Nam. Mọi học thuyết đạo đức, tôn giáo từ nước ngoài du nhập vào Việt Nam đều được tiếp nhận khúc xạ qua lăng kính của tư tưởng yêu nước đó.
- Thứ hai, là tinh thần nhân nghĩa, truyền thống đoàn kết, tương thân, tương ái. Truyền thống này cũng hình thành cùng với sự hình thành dân tộc, từ hoàn cảnh và nhu cầu đấu tranh quyết liệt với thiên nhiên và với giặc ngoại xâm. Bước sang thế kỷ XX, mặc dù xã hội Việt Nam đã có sự biến đổi sâu sắc về cơ cấu giai cấp – xã hội, nhưng truyền thống này vẫn bền vững. Hồ Chí Minh đã kế thừa, phát huy sức mạnh của truyền thống nhân nghĩa, đoàn kết, tương thân tương ái thể hiện tập trung trong bốn chữ “đồng” (đồng tình, đồng sức, đồng lòng, đồng minh).
- Thứ ba, dân tộc Việt Nam là một dân tộc có truyền thống lạc quan, yêu đời. Tinh thầ lạc quan đó có cơ sở từ niềm tin vào sức mạnh của bản thân mình, tin vào sự tất thắng của chân lý, chính nghĩa. Hồ Chí Minh là hiện thân của truyền thống lạc quan đó.
- Thứ tư, dân tộc Việt Nam là dân tộc cần cù, dũng cảm, thông minh, sáng tạo, ham học hỏi và mở rộng cửa đón nhận tinh hoa văn hóa của nhân loại. Người việt Nam từ xưa đã rất xa lạ với đầu óc hẹp hòi, thủ cựu, thói bài ngoại cực đoan. Trên cơ sở giữ vững bản sắc của dân tộc, nhân dân ta đã biết chọn lọc, tiếp thu, cải biến những cái hay, cái tốt, cái đẹp của người thành những giá trị riêng của mình. Hồ Chí Minh là hình ảnh sinh động và trọn vẹn của truyền thống đó.
b. Tinh hoa văn hóa nhân loại.
Hồ Chí Minh xuất thân trong gia đình khoa bảng, từ nhỏ Người đã được hấp thụ môt nền Quốc học và Hán học khá vững vàng. Khi ra nước ngoài, Người có thể viết văn Anh, văn Pháp sắc sảo như một nhà báo phương Tây thực thụ, nhưng khi có nhu cầu “tự bạch” thì Người làm thơ bằng chữ Hán. Chính điều đó tạo điều kiện cho Người tiếp thu được tinh hoa văn hóa nhân loại và làm nên nét đặc sắc ở Hồ Chí Minh, một con người biểu tượng cho sự kết hợp hài hòa văn hóa Đông – Tây.
- Tư tưởng văn hóa phương Đông.
+ Nho giáo. Nho giáo có những yếu tố duy tâm, lạc hậu, nhưng nho giáo cũng có nhiều yếu tố tích cực, nên có ảnh hưởng khá lâu dài trong lịch sử. Đó là triết lý hành động, tư tưởng nhập thế, hành đạo, giúp đời; lý tưởng về một xã hội bình trị; triết lý nhân sinh: tu thân dưỡng tính góp phần đề cao văn hóa, lễ giáo, đề cao tinh thần hiếu học.
Hồ Chí Minh đã khai thác nho giáo, lựa chọn những yếu tố tích cực, phù hợp để phục vụ cho nhiệm vụ cách mạng. Người dẫn lời của Lênin: “Chỉ có những người cách mạng chân chính mới thu hái được những điều hiểu biết quý báu của các đời trước để lại” (2).
+ Phật giáo. Phật giáo là một trong những tôn giáo du nhập vào Việt Nam khá sớm. Những mặt tích cực của Phật giáo đã để lại những dấu ấn sâu sắc trong tư duy, hành động, cách ứng xử của con người Việt Nam.
Phật giáo có tư tưởng vị tha, từ bi, bác ái, cứu khổ, cứu nạn, thương người như thể thương thân; xây dựng nếp sống có đạo đức, trong sạch, giản dị, chăm lo làm điều thiện; đề cao tinh thần bình đẳng, tinh thần dân chủ chất phác chống lại mọi phân biệt đẳng cấp. Phật giáo Thiền tông coi trọng lao động, chống lười biếng.
Phật giáo vào Việt Nam, gặp chủ nghĩa yêu nước, ý chí độc lập, tự chủ đã hình thành nên Thiền phái trúc lâm Việt Nam, chủ trương không xa đời mà sống gắn bó với nhân dân, với đất nước, tham gia vào cộng đồng, vào cuộc đấu tranh của nhân dân chống kẻ thù dân tộc.
Phật giáo Việt Nam đã đi vào đời sống tinh thần dân tộc và nhân dân lao động, để lại dấu ấn sâu sắc trong tư tưởng Hồ Chí Minh.
+ Hồ Chí Minh cũng nghiên cứu và thấu hiểu tư tưởng của các nhà tư tưởng phương Đông như Lão tử, Mặc tử, Quản tử... Khi đã trở thành người mácxít, Hồ Chí Minh vẫn tìm hiểu thêm về chủ nghĩa Tam dân của Tôn Trung Sơn. Hồ Chí Minh đã biết khai thác những yếu tố tích cực của tư tưởng và văn hóa phương Đông để phục vụ cho sự nghiệp cách mạng của Người.
- Tư tưởng và văn hóa phương Tây.
+ Ngay từ khi còn học ở Trường tiểu học Đông Ba rồi vào Trường Quốc học Huế, Hồ Chí Minh đã làm quen với văn hóa Pháp. Đặc biệt, Người rất ham mê môn lịch sử, và say sưa tìm hiểu cuộc Đại cách mạng Pháp 1789.
+ Khi xuất dương, Người đã từng sang Mỹ, đến sống ở New York, làm thuê ở Bruclin và thường đến thăm khu Haclem của người da đen. Người thường suy nghĩ về tự do, độc lập, quyền sống của con người... được ghi trong Tuyên ngôn độc lập 1776 của nước Mỹ.
+ Đến Pháp, Hồ Chí Minh được tiếp xúc trực tiếp với tác phẩm của các nhà tư tưởng khai sáng như tinh thần pháp luật của Môngtétxkiơ, khế ước xã hội của Rútxô... Tư tưởng dân chủ của các nhà khai sáng đã có ảnh hưởng lớn tới tư tưởng của Người.
+ Hồ Chí Minh hình thành phong cách dân chủ của mình từ trong cuộc sống thực tiễn. Người học được cách làm việc dân chủ trong cách sinh hoạt khoa học ở Câu lạc bộ Phôbua (Faubourg), trong sinh hoạt chính trị của Đảng xã hội Pháp.
Tóm lại, nhờ sự thông minh, óc quan sát, ham học hỏi và được rèn luyện trong phong trào công nhân Pháp, trên hành trình cứu nước Hồ Chí Minh đã biết làm giàu trí tuệ của mình bằng vốn trí tuệ của thời đại, của văn hóa Đông, Tây, từ tầm cao củ tri thức nhân loại mà suy nghĩ và lựa chọn, kế thừa và đổi mới, vận dụng và phát triển.
c. Chủ nghĩa Mác – Lênin, cơ sở thế giới quan và phương pháp luận của tư tưởng Hồ Chí Minh.
- Tác động của mối quan hệ biện chứng giữa cá nhân với dân tộc và thời đại đã đưa Hồ Chí Minh đến với Chủ nghĩa Mác – Lênin, từ người yêu tước trở thành người cộng sản. Nhờ có thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin Hồ Chí Minh đã hấp thụ và chuyển hóa được những nhân tố tích cực và tiến bộ của truyền thống dân tộc cũng như của tư tưởng – văn hóa nhân loại để tạo nên hệ thống tư tưởng của mình. Vì vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh thuộc hệ tư tưởng Mác – Lênin, những phạm trù cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh nằm trong những phạm trù cơ bản của lý luận mác – Lênin.

Sở dĩ Hồ Chí Minh đã lựa chọn các nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác –Lênin, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin trên một loạt luận điểm cơ bản hình thành nên tư tưởng Hồ Chí Minh có nguyên nhân sâu xa là:

+ Khi đi tìm đường cứu nước, ở tuổi 20, Hồ Chí Minh đã có một vốn học vấn chắc chắn, một năng lực trí tuệ sắc sảo. Nhờ vậy Người quan sát, phân tích, tổng kết một cách độc lập tự chủ và sáng tạo; không rơi vào sao chép, giáo điều, rập khuôn; tiếp thu và vận dụng chủ nghĩa Mác – Lênin một cách sáng tạo, phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện cụ thể của Việt Nam.
+ Hồ Chí Minh đến với chủ nghĩa Mác – Lênin là để tìm đường cứu nước, giải phóng dân tộc, tức là từ nhu cầu thực tiễn của cách mạng Việt Nam.Chính Người đã viết: “Lúc đầu, chính là chủ nghĩa yêu nước, chứ chưa phải chủ nghĩa cộng sản đã đưa tôi tin theo Lênin ,tin theo Quốc tế III”(3). Nhờ Lênin, người đã tìm thấy “Con đường giải phóng chúng ta” và từ Lênin, Người đã trở lại nghiên cứu Mác sâu sắc hơn.
+ Hồ Chí Minh đã tiếp thu lý luận Mác – Lênin theo phương pháp nhận thức mácxít, cốt nắm lấy cái tinh thần, cái bản chất chứ không tự trói buộc trong cái vỏ ngôn từ. Người vận dụng lập trường, quan điểm và phương pháp của chủ nghĩa Mác – Lênin để tự tìm ra những chủ trương, giải pháp, đối sách phù hợp với từng hoàn cảnh cụ thể, từng thời kỳ cụ thể của cách mạng Việt Nam chứ không đi tìm những kết luận có sẵn trong sách vở kinh điển.
d. Những nhân tố chủ quan thuộc về phẩm chất cá nhân của Hồ Chí Minh.
- Trước hết, đó là tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo, cộng với đầu óc phê phán tinh tường, sáng suốt trong nghiên cứu, tìm hiểu.
- Đó là sự khổ công học tập nhằm chiếm lĩnh vốn tri thức phong phú của thời đại, vốn kinh nghiệm đấu tranh của phong trào giải phóng dân tộc, phong trào công nhân quốc tế.
- Đó là ý chí của một nhà yêu nước, một chiến sĩ cộng sản nhiệt thành cách mạng, một trái tim yêu nước, thương dân, thương yêu những người cùng khổ sẵn sàng chịu đựng những hy sinh cao nhất vì độc lập của tổ quốc, vì tự do, hạnh phúc của đồng bào.
Chính những phẩm chất cá nhân cao đẹp đó đã quyết định việc Hồ Chí Minh tiếp nhận, chọn lọc, chuyển hóa phát triển những tinh hoa của dân tộc và thời đại thành tư tưởng đặc sắc của mình

Nguồn gốc

  1. Tư tưởng và văn hóa truyền thống Việt Nam:
    • Chủ nghĩa yêu nước và ý chí bất khuất đấu tranh để dựng nước và giữ nước;
    • Tinh thần nhân nghĩa, truyền thống đoàn kết, tương thân, tương ái;
    • Truyền thống lạc quan, yêu đời;
    • Cần cù, dũng cảm, thông minh, sáng tạo.
  2. Tinh hoa văn hóa nhân loại:
    • Tư tưởng văn hóa phương ĐôngNho giáoPhật giáo;
    • Tư tưởng và văn hóa phương Tây: thắng lợi của cuộc Đại cách mạng Pháp 1789, Tuyên ngôn độc lập 1776 của Hoa Kỳ, tư tưởng dân chủ phương Tây,...;
  3. Chủ nghĩa Marx-Lenin: cơ sở thế giới quan và phương pháp luận của Tư tưởng Hồ Chí Minh;
  4. Nhân tố chủ quan: phẩm chất cá nhân của Hồ Chí Minh.
Chương II : Tư tưởng HCM về vấn đề dân tộc thuộc địa

1.Vấn dề dân tộc thuộc địa
a.Thực chất của vấn đề dân tộc thuộc địa:

Dân tộc là gì?
Dân tộc hiểu theo nghĩa là một quốc gia với sự đoàn kết ,thống nhất giữa mọi người
Là một dân tộc riêng lẻ, nằm trong một quốc gia
Hiểu theo nghĩa 1 :Dân tộc mang nghĩa 1 quốc gia


- HCM giành sự quan tâm đến cuộc đấu tranh chống đế quốc xâm lược của các nước thuộc địa để giành độc lập dân tộc,thực hiện quyên tự quyết ,thành lập NN dân tộc độc lập
- Thực chất của vấn đề dân tộc thuộc địa trước hết là việc đấu tranh chống CN thực dân,giải phóng dân tộc
- Người viết hàng loạt các tác phẩm có giá trị như :Tâm địa thực dân,bẩn án chế độ thực dân(P)...nhằm vạch trần ,tố cáo bản chất, bộ mặt thật của CN thực dân.Đặc biệt lên án chế độ cai trị hà khắc .sự bóc lột của thực dân P ở ĐD
- Người chỉ rõ đối kháng giữa các dân tộc bị áp bức với CN thực dân là mâu thuẫn chủ yếu ở thuộc địa ,là mâu thuẫn ko thể đối kháng được

Thực chất của vấn đề dân tộc thuộc địa còn được thể hiện ở việc lựa chọn con đường phát triển của dân tộc


HCM khẳng định phương hướng phát triển của dân tộc trong thời đại mới là CNXH :”Làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cach mạng để đi tới xã hội cộng sản”


Đó là mọt con đường đúng đắn ,phù hợp với tình hình bối cảnh quốc tế & các nước thuộc địa , nó kết họp trong đó cả nội dung dân tộc , dân chủ và XHCN.Thực chất chính là con đườngđộc lập dân tộc gắn liền với CNXH




b.Độc lập dân tộc – nội dung cốt lõi của vấn đề dân tọc thuộc địa


-Tiếp cận từ quyền con người:


HCM hiểu và trân trọng quyền con người ,đặc biệt thong qua 2 bản tuyên ngôn nổi tiếng: Tuyên ngôn độc lập Mỹ(1776); Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của cách mạng Pháp(1791)
Từ đó ,Người khái quát ,nâng lên thành quyền dân tộc :”Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đắng, dân tộc nào cũng có quyền sống,quyến sung sương và quyền tự do”

-Nội dung của độc lập dân tộc :Độc lập tự do

+Người luôn mong muốn rằng ::Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi,đấy là tất cả những gì tôi muốn,đấy là tất cả những gì tôi hiểu “


+Tư tưởng , mong muốn ,khát vọng được tự do,bình đẳng được thể hiện ở chặng đường hoạt động, cống vì c/m nước nhà của VN

- Năm 1919, thay mặt những người VN yêu nước , người gửi đến hội nghị Vecxay bản yêu sách 8 diểm đòi các quyền về tự do dân chủ của nhân dân VN
- Năm 1930 ,Người soạn thảo cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng với tư tương cốt lõi là độc lập tự do cho dân tộc
- Năm 1945 ,với bản tuyên ngôn độc lập , Người khẳng định “Dân tộc VN có quyền hưởng tự do độc lập và sự thật đã trở thành một nước tự do , độc lập.Toàn thể dân tộc VN quyết đem tính mạng và của cải, tinh thần và lực lượng để giữ vững quyền độc lập tự do ấy”
- ....................
Tư tưởng độc lập dân tộc của HCM sâu sắc , toàn diện , độc lập gắn liền với thống nhất,với tự do dân tộc. Tư tưởng đó trở thành mục tiêu, lý tưởng ,khẩu hiệu cổ vũ nhân dân ta làm nên những chiến thắng vĩ đại

c.CN dân tộc- một động lực lớn của dất nước

-CN dân tộc được HCM khẳng định là một động lực lớn cúa dân tộc , thực chất là CN yêu nước.Người kết án CN thực dân & cổ vũ các dân tộc thuộc địa vùng dậy đấu tranh.HCM khẳng định, đối với các dân tộc thuộc địa ở phương Đông “chủ nghĩa dân tộc là một  động lực lớn của đất nước”


-HCM thấy rõ sức mạnh của CN dân tộc với tư cách CN yêu nước  chân chính của các dân tộc thuộc địa.Đó là sức mạnh chiến đấu và chiến thắng trước bất cứ thế lực ngoại xâm nào.Đó là CN dân tộc chân chính,1 bộ phận cuả tinh thần quốc tế. khác hẳn với tinh thần “vị quốc” của bọn đế quốc phản động.nó đuuộc xây dựng trên cơ sở phân tích một cách thấu đáo quan hệ giai cấp cua CNXH và sự tiếp thu truyền thống dân tộc.

2.MỐI QUAN HỆ GIỮA VẤN ĐỀ DÂN TỘC VÀ VẤN ĐỀ GIAI CẤP

A.vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp có quan hệ chặt chẽ với nhau

-HCM rất coi trọng vấn đề dân tộc,đề cao sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước,nhưng người luôn đứng trên quan điểm giai cấp để nhận thức và giải quyết vấn đề dân tộc.

-Sự kết hợp nhuần nhuyễn vấn đề giai cấp và vấn đề dân tộc của HCM thể hiện:khẳng định vai trò lịch sữ cuả giai cấp công nhân và quyền lãnh đạo duy nhất của ĐCS trong quá trình cách mạng VN.

-Đảng chủ trương đại đoàn kết dân tộc dựa trên nền tảng liên minh công nông,nông dân và tầng lớp trí thức,dưới sự lãnh đạo của Đảng.

-Đảng chủ trương sử dụng bạo lực cách mạng của quần chúng để chống lại bạo lực phản cách mạng của kẻ thù.Gắn kết mục tiêu độc lập dân tộc với CNXH.

B.giải phóng dân tộc là vấn đề trên hết,trước hết.độc lập dân tộc gắn liền với CNXH.

-Khác với con đường cứu nước của ông cha ta,gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa phong kiến hoặc chủ nghĩa tư bản,con đường cứu nước của HCM là độc lập dân tộc với CNXH.

-Năm 1920 người quyết định phương hướng cho cách mạng VN theo con đường cách mạng vô sản.

-Năm 1960 người nói: “chỉ có chủ nghĩa xã hội,chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ”

=>Tư tưởng HCM vừa phản ánh quy luật khách quan của sự nghiệp giải phóng dân tộc trong thời đại chủ nghĩa đế quốc,phản ánh mối quan hệ khăng khít giữa mục tiêu giải phóng dân tộc với mục tiêu giải phóng giai cấp và giải phóng con người.

C.giải phóng dân tộc tạo tiền đề để giải phóng giai cấp.

-HCM giải quyết vấn đề dân tộc theo quan điêm giai cấp,nhưng đồng thời đặt vấn đề giai cấp trong vấn đề dân tộc.tuy nhiên lợi ích của giai cấp phải phục tùng lợi ích của dân tộc.

-Tháng 5-1941,người cùng trung ương Đảng khẳng định trong lúc này quyền lợi của bộ phận,của giai cấp phải đặt dưới sự sinh tử,tồn vong của quốc gia,của dân tộc.
D.giữ vững độc lập của dân tộc mình đồng thời tôn trọng độc lập của các dân tộc khác.

-Là một chiến sĩ quốc tế chân chính,HCM không chỉ đấu tranh cho độc lập của dân tộc VN,mà còn đấu tranh cho độc lập của tất cả các dân tộc bị áp bức.

-Nêu cao tinh thần độc lâp tự chủ,thực hiện nguyên tắc về quyền dân tộc tự quyết,nhưng HCM không quên nghĩa vụ quốc tế trong việc ủng hộ các cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc trên thế giới.như cuộc kháng chiến chống Nhật của nhân dân Trung Quốc,các cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và chống đế quốc Mỹ xâm lược của nhân dân Lào và Campuchia.

=>Tư tưởng HCM về vấn đề dân tộc mang tính khoa học và cách mạng sâu sắc,thể hiện sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa dân tộc và giai cấp,chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế cộng sản.

Nguồn: wikipedia
Tags:

Bài viết liên quan: